Thăm các làng nghề truyền thống ở đồng bằng Sông Cửu Long

ĐÔI NÉT VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

Trải bao thăng trầm của lịch sử, với sức người cần lao gìn giữ, xây dựng, những lớp cha ông đi trước mở đường, khai hoang lập nghiệp đã để lại cho con cháu Đồng Tháp hôm nay những ruộng lúa, vườn cây, làng quê trù phú, di tích văn hoá – lịch sử… và cả những làng nghề truyền thống với nhiều nét đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ Nam Bộ.  

Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam. Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam.

    Do đặc tính nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam, các ngành nghề thủ công được lựa chọn và dễ phát triển trong quy mô cá nhân rồi mở rộng thành quy mô gia đình. Dần dà, các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình thợ thủ công, dần được truyền ra lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề. Và bởi những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng…

Có 12 nhóm sản phẩm thủ công chính ở Việt Nam, bao gồm:

  1. May mặc
  2. Mây tre đan
  3. Sản phẩm từ cói và lục bình
  4. Gốm sứ
  5. Điêu khắc gỗ
  6. Sơn mài
  7. Thêu ren
  8. Điêu khắc đá
  9. Dệt thủ công
  10. Giấy thủ công
  11. Tranh nghệ thuật
  12. Kim khí
  13. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác

Nằm bên bờ Tiền Giang ngọt ngào phù sa, dồi dào tôm cá, đã từ lâu thị xã Sa Đéc nổi tiếng với nghề làm bánh phồng tôm. Từ con tôm nước ngọt qua bàn tay khéo léo, tài hoa của người thợ – người dân Sa Đéc đã tạo nên một sản phẩm truyền thống độc đáo: “Bánh phồng tôm Sa Giang”. Đó là những chiếc bánh tròn vành vạnh, ngã màu vàng đục tựa như vầng trăng rằm ở làng quê Việt Nam, có hương vị thơm nồng, cay cay đậm đà, đã góp phần làm phong phú thêm nét văn hoá ẩm thực của dân tộc Việt Nam. Có lẽ vì vậy mà trên khắp mọi miền đất nước, trên những bàn tiệc tùng, liên hoan, lễ tết… đĩa bánh phồng tôm bao giờ cũng được đặt ở vị trí trung tâm như một đoá đại cúc bên cạnh những món ăn dân tộc khác. Chắc cũng chính vì vậy mà các lò sản xuất bánh phồng tôm trong nước đều lấy chữ “Giang” ghép đặt tên cho sản phẩm của mình như: bánh phồng tôm Linh Giang, Trương Giang v.v. 

     Việc lấy uy tính làng nghề để tiếp cận thị trường cũng là điều dễ hiểu. Dù vậy báng phồng tôm Sa Giang vẫn là nhãn hiệu duy nhất trong số các mặt hàng bánh phồng tôm trong nước đạt tiêu chuẩn Châu Âu về chất lượng sản phẩm. Bằng nhiều nỗ lực, sáng tạo, bánh phồng tôm Sa Đéc nói chung ngày càng vươn rộng ra thị trường trong và ngoài nước.

     Sẽ không quá lời khi nói rằng: Thiên nhiên, con người ở miệt Sa Đéc trù phú, thanh tao và phong nhã không thua bất cứ một nơi nào. Ngay như chọn cái nghề trồng hoa kiểng cũng đủ nói lên điều này. Vốn là một nghề truyền thống nổi tiếng, có tự lâu đời, làng hoa kiểng Tân Qui Đông – Sa Đéc hàng năm thu hút hàng nghìn lượt khách bốn phương đến tham quan. Bon sai, kiểng cổ, hoa tươi các loại du khách mặt sức thưởng ngoạn. Đặc biệt, là vào dịp Rằm đến 25 tháng Chạp hàng năm, làng hoa Tân Qui Đông lại nở rộ với đủ sắc màu lộng lẫy để tham gia vào thị trường hoa tươi ngày tết. Dưới bến thì tấp nập ghe thuyền, trên bờ hàng đoàn xe tải tất bật nối đuôi nhau chuyển hoa đi khắp mọi nẻo miền quê xuôi ngược.

     Quen thuộc và bình dị có vạn thọ, cúc, hạnh, mẫu đơn… quí phái và sang trọng có cúc đại đoá, lan, thược dược… Nhưng nhiều và nổi tiếng hơn cả là hồng. Theo nghệ nhân Tư Tôn – Người đã gắn bó phần lớn cuộc đời vào sự thăng trầm của làng hoa Sa Đéc, thì hiện Tân Qui Đông có trên 40 giống hồng: hồng nhung, hồng trắng, hồng màu cam, hồng màu hột gà… mỗi loại, mỗi sắc màu lộng lẫy khác nhau, cho nên nhiều người nói Tân Qui Đông một năm có cả bốn mùa xuân là vậy. Có lẽ nhờ vị ngọt phù sa, hơi gió dịu mát, trong lành của sông Tiền đã mang lại cho hoa ở đây thêm mùi hương quyến rũ, màu sắc rực rỡ. Cảm ơn sông Tiền! Cảm ơn những nghệ nhân hoa kiểng Sa Đéc – như con ong chăm chỉ đem lại hương thơm, mật ngọt cho đời bằng nghề trồng hoa kiểng của mình. Bởi thú chơi hoa kiểng thanh tao giúp cho con người vơi đi những mệt nhọc, phiền muộn, những bon chen của cuộc sống đời thường.

     Tuy là một tỉnh chưa giàu về đời sống vật chất, nhưng người dân Đồng Tháp rất giàu tình cảm, cách nghĩ, cách làm, điều đó đã tạo nên một phong cách sống, làm việc khá riêng biệt ở mỗi địa phương. Nếu ở Sa Đéc nổi tiếng với nghề trồng hoa kiểng, bánh phồng tôm, hủ tiếu bột lọc, thì ở Lai Vung lại nổi tiếng với nghề làm nem. Nghề này cũng khá công phu và lắm bí quyết. Ông giáo Thơ – một trong những chủ lò nem lâu năm, nổi tiếng ở Lai Vung cam chắc một cách tự hào rằng: là anh em ruột trong gia đình cũng làm nghề nem nhưng nếu lập nghiệp ở một nơi khác thì chất lượng nem chỉ bằng 8/10 so với nem Lai Vung chánh gốc mà thôi. Nem Lai Vung bán chạy nhất là vào dịp vía Bà ở Châu Đốc hay trong dịp tết cổ truyền. Bởi tiện dụng ở chỗ mua rồi có thể ăn được ngay hoặc làm quà biếu người thân trong một chuyến đi xa. Người ăn thong thả mở từng lớp lá chuối xanh bên ngoài sẽ thấy một miếng nem tươi rói, đỏ hồng điểm xuyết thêm hạt tiêu đen, lát tỏi trắng mỏng bọc trong chiếc là dong non thật xinh xắn. Và vị ngọt thanh, chua đầm của chiếc nem sẽ làm cho bạn tan đi những cảm giác chán ngán bởi thịt mỡ đầy ấp của ngày tết. Một đĩa dưa kiệu, vài ba chiếc nem cũng đủ làm cho ly rượu mừng xuân thêm hồng đượm nghĩa tình. Đặc biệt là món nem nướng, dùng loại nem vừa được gói xong chưa lên nem chua, nướng trên vỉ than đỏ hồng, đứng xa vài chục mét bạn cũng ngửi được mùi thơm ngào ngạt của nó. Món này ăn kèm với bún, rau thơm, nước chấm tỏi, ớt thiệt là hết ý. Đây cũng là món ăn phổ biến trong các bữa tiệc của người dân Nam bộ và đã chinh phục cả những thực khách nước ngoài.

     Nhiều du khách đến miền Tây, ngoài việc thưởng thức các món ăn đặc sản, họ còn có cái thú ngồi trên những chiếc xuồng ba lá, nhỏ, nhẹ, chòng chành trên các con sông nhỏ, kênh rạch ngắm cảnh, ngắm người. Đối với người dân vùng sông nước chiếc xuồng trở nên hết sức cần thiết và quen thuộc như lời một ca khúc của cố nhạc sĩ Xuân Hồng viết về Đồng Tháp: “Chiếc xuồng quê hương tôi đã có tự lâu rồi, gắn bó mỗi cuộc đời người dân trên Đồng Tháp”. Thật vậy, xuồng là phương tiện đi lại, sinh sống đồng thời là “nhà” trong mùa nước lũ, là “công sự” chiến đấu trong thời kỳ chiến tranh… Một trong những làng nghề đóng xuồng nổi tiếng ở Đồng Tháp là ở xã Long Hậu, huyện Lai Vung. Nơi đây tập trung trên 200 cơ sở đóng xuồng. Từ những loại gỗ bình dị như: gáo, dênh dênh đến loại cây sao bền chắc… những người thợ đóng xuồng ở Long Hậu đã đóng góp cho người dân vùng sông nước những chiếc xuồng mộc mạc, một vật dụng đã từng khơi nguồn cảm hứng cho cả thơ ca, nhạc hoạ…

     Tùy theo điều kiện, nhu cầu của cuộc sống mà ở Đồng Tháp có những làng nghề truyền thống khác nhau: từ nghề chầm nón lá, đến xắt thuốc rê, kết mê bồ chứa lúa, nghề nuôi cá bè… Ở bất cứ làng nghề nào, bạn cũng có thể tìm thấy những nét tinh tế, sáng tạo, cần cù khác nhau tạo nên sự đa dạng hài hoà trong tính cách, tâm hồn của người dân Đồng Tháp. Mời bạn nếu có dịp hãy đến với quê hương Đồng Tháp để cảm nhận rõ hơn điều đó.

K.N


CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

 * Nghề làm bột ở Sa Đéc

     Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp là một trong những đầu mối trung chuyển lương thực lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long và là địa phương nổi tiếng với làng nghề làm bột gạo, làng nghề này được hình thành và phát triển từ nửa thế kỷ nay.

     Với lực lượng lao động đông đảo và sản lượng bột hàng năm lớn, làng bột Sa Đéc là nơi cung ứng chủ yếu cho nhu cầu tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh và khắp vùng Đông, Tây Nam Bộ, xuất khẩu ra cả các nước Đông Nam Á.

     Sản phẩm bột gạo ở đây được chia thành 2 loại: bột tươi, ướt, được cung cấp trực tiếp cho các nhà máy, cơ sở chế biến thực phẩm; bột khô dùng để dự trữ, chế biến dần. Từ bột gạo, người ta chế biến ra hàng chục mặt hàng thực phẩm rất hấp dẫn, không thể thiếu trong đời sống hàng ngày như phở, hủ tíu, bún, các loại bánh, các sản phẩm ăn liền…

     Bột lọc Sa Đéc còn nổi tiếng với bí quyết sản xuất gia truyền, độc đáo. Các thực phẩm được chế biến từ bột lọc Sa Đéc có chất lượng tuyệt vời, dai và mềm, thơm ngon đặc trưng, khiến bạn ăn một lần nhớ mãi.

     Hiện nay, nhà máy bột Bích Chi ở số 45 quốc lộ 80 thị xã Sa Đéc là nhà máy sản xuất bột lớn nhất tại Đồng Tháp, với sản phẩm mang nhãn hiệu “bột Bích Chi” đã có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước từ những năm trước 1975, ngày đang khẳng định thương hiệu của mình.

* Nghề làm nem ở Lai Vung

     Huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp nổi tiếng khắp vùng đồng bằng Nam Bộ với nghề làm nem truyền thống. Nằm ở phía Bắc sông Hậu, làng nghề làm nem ở Lai Vung được hình thành hơn 60 năm nay và là một trong những làng nghề lâu đời nhất ở địa phương, nằm trong số gần 30 làng nghề được tỉnh Đồng Tháp công nhận.

     Đặc sản nem Lai Vung từ lâu đã nổi tiếng với hương vị ngon đặc biệt. Nghề làm nem cũng lắm công phu, làm ra một chiếc nem phải trải qua rất nhiều công đoạn. Thịt làm nem là thịt heo đưa vào cối đá quết nhuyễn, da heo được lạng nhỏ thành từng miếng. Trộn lẫn các thứ thịt, bì, tiêu, ớt, lót kèm lá vông xong người ta gói lại bằng lá chuối tươi để từ 3 đến 4 ngày cho lên men ở nhiệt độ khoảng 27-300C. Nem làm ngon và đúng cách phải đủ tám phần thịt, 2 phần bì, thịt lợn phải tươi, gia vị phải cân đối, gói thật đều tay.

     Một khi đã tới địa phận Đồng Tháp hẳn bạn không thể quên mua vài chục nem Lai Vung về làm quà cho bạn bè và người thân.

* Làng nghề dệt chiếu Long Định

     Ở xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp trước đây và hiện nay luôn giữ được nghề dệt chiếu cha truyền con nối và phát huy được thương hiệu chiếu Long Định trên thị trường cả nước. Nghề dệt chiếu ở đây tồn tại trên dưới 50 năm. Theo thời gian cùng sự phát triển của cuộc sống xã hội và thương trường, chiếc chiếu Long Định vẫn luôn khẳng định chất lượng và tên tuổi. Sau khi được tỉnh công nhận làng nghề và đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề, chiếc chiếu Long Định thật sự trở thành nguồn thu nhập chính trong đời sống của người lao động, hàng chục ngàn chiếc chiếu được đem ra thị trường vào mỗi năm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong vùng.

* Nghề làm nón

     Trên địa bàn huyện Châu Thành còn có tới 3 làng nghề nữa cũng có truyền thống lâu đời và có thương liệu nổi tiếng trên thị trường trong và ngoài nước. Các làng nghề: làng nghề nón bàng buông Thân Cửu Nghĩa, làng nghề tiểu thủ công nghiệp Tân Lý Tây và làng nghề tiểu thủ công nghiệp – nón bàng buông Tân Lý Đông. Ba làng nghề này trước nay có đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của địa phương và đem kim ngạch ngoại tệ về cho đất nước thông qua việc xuất khẩu trực tiếp cho khách hàng nước ngoài như hiện nay.

*Rượu Xuân Thạnh

     Rượu Xuân Thạnh do một số gia đình trong cùng một dòng tộc tại ấp Xuân Thạnh, xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh nắm giữ bí quyết và sản xuất  bằng gạo nếp mùa truyền thống cùng bài men gia truyền. Rượu Xuân Thạnh cao độ, sủi tăm trong vắt, hương vị nồng nàn và không gây khó chịu cho người lỡ vui quá chén.

 * Làng lụa Bảy Núi

     Ẩn chứa trong những phum sóc của đồng bào Khmer ở miệt Bảy Núi là những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời với những làng nghề nổi tiếng. Một trong những làng nghề ấy chính là nghề dệt lụa ở ấp Srây-Skoth, xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

     Nghề dệt của người Khmer Srây-Skoth có gần 100 năm nay. Nhờ có vùng đất giồng cát dưới chân núi và nguồn nước xanh trong trời cho, người dân ở đây đã phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm và ươm tơ dệt lụa. Sản phẩm là những chiếc xà-rông, khăn trang trí trong chùa, trong gia đình, hay những nghi thức tôn giáo. Nét hấp dẫn lớn nhất của lụa Srây-Skoth Khmer chính là các trang trí hoa văn độc đáo. Lụa dùng cho trang phục thường được dệt những hoa văn hình vuông, tròn hoặc đa giác đều. Lụa dùng làm thảm, rèm, bức trướng… dệt khó hơn nhiều với kỹ thuật “chằng hung” (mà người dân quen gọi bắt bông dâu). Thường các chùa thích những bức rèm có hoa văn hình voi, ngựa, rồng…, đó cũng là những linh vật của người Khmer. Để cho ra đời một tấm lụa tốt, người phụ nữ Khmer phải buộc, nhuộm nhiều lần trong hàng tháng trời, theo những hình hoa văn được tính toán kỹ lưỡng trước khi dệt. Chính vì thế mà tạo ra sự đa dạng, tinh tế cho những tấm xà-rông chất lượng cao… Đây quả là những bàn tay khéo léo thật thụ, truyền hồn vào những sợ tơ tằm tạo nên những sản phẩm tinh tế, đặc sắc… Đây chính là nghề giúp cho đồng bào Khmer nơi đây xóa đói giảm nghèo.

*Làng nghề đục đá mỹ nghệ

     Làng nghề vốn có từ 200-300 năm nay, toàn huyện Thoại Sơn có 7 trại tiểu thủ công mỹ nghệ bằng đá, với sản phẩm chủ yếu: Cối xay, cối đâm, cối vuông đủ kích cỡ, chưng hương, mộ bia Tàu, quách lớn nhỏ. Ngoài ra, còn có hình muông thú như: Sư tử, kỳ lân dùng để làm vật trang trí hay trưng bày…

     Từ đá, nghệ nhân làng đá mỹ nghệ Thoại Sơn đã thổi vào đó tâm hồn của con người, cho ra những sản phẩm được trau chuốt đến từng chi tiết. Quá trình này diễn ra ở nhiều công đoạn, và có cả những công đoạn vất vả, nhọc nhằn nhưng niềm hạnh phúc trước một tác phẩm đã hình thành, thái độ ngưỡng mộ của người thưởng thức đã giúp cho người dân làng nghề mỹ nghệ này ngày càng gắn bớ với công việc của mình. Mặc dù để duy trì nghề, họ phải chạy tìm mua đá nguyên liệu ở tận núi Cấm, hòn Sóc, với chi phí vận chuyển khá cao.

* Mắm Châu Đốc

     Làng nghề mắm ở núi Sam Châu Đốc, tỉnh An Giang có nhiều loại mắm nổi tiếng thơm ngon đặc biệt và rất được du khách ưa chuộng. Nhờ đó, thương hiệu mắm Châu Đốc ngày càng được giới thiệu, quảng bá rộng rải ra khắp các miền đất nước, làm cho món ăn dân dã ngày nào nay bổng chốc danh tiếng lẫy lừng…

     Mắm Châu Đốc là một thứ “đặc sản của đặc sản”, được chế biến từ sự tổng hợp các loại thực phẩm chỉ được thiên nhiên ban tặng riêng cho vùng này. Đó là đường từ cây thốt lốt xanh tươi của vùng đất núi, là chất cám gạo lúa thơm của những cánh đồng màu mỡ phù sa và dĩ nhiên là kết hợp với nguồn thuỷ sản thiên nhiên phong phú, cuối mùa nước là bắt đầu mùa mắm.

     Ngày nay các công đoạn làm đã dần được cơ giới hóa thay thế thủ công, đồng thời đảm bảo vệ sinh và chất lượng. Nguồn cá nguyên liệu phải tăng hơn trước đến hàng mấy mươi lần, nên sản lượng cá tại chỗ chỉ đủ cung ứng trong một vài tháng đầu. Sau đó thì những mối hàng từ các miệt vườn xa hơn như Nông trường Sông Hậu (Cần Thơ), Cao Lãnh (Đồng Tháp) hoặc một số tỉnh lân cận đổ về, nhất là nguồn từ Campuchia.

     Nhờ ưu thế chỉ sử dụng nguồn thực phẩm tự nhiên, được chế biến theo phương thức truyền thống, không có chứa các hóa chất phụ gia độc hại, mắm Châu Đốc đạt các tiêu chuẩn về giá trị dinh dưỡng và được ngành Y tế công nhận là sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm. Hiện tại nhiều hộ làm mắm còn kết hợp giữa phương thức truyền thống với tiến khoa học kỹ thuật hiện đại để chế biến ra các sản phẩm đa dạng hơn và có thể để lâu mà vẫn không thay đổi chất lượng, hương vị. Hiện sản phẩm  mắm Châu Đốc đã có mặt ở hệ thống siêu thị trong cả nước và được  xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài.

* Làng đóng ghe xuồng

     Làng đống ghe xuồng Ngã Bảy, Phụng Hiệp hình thành rất sớm ở Đồng bằng sông Cửu Long thuộc tỉnh Hậu Giang.

     Vào những năm 1940, làng nghề Phụng Hiệp chỉ đóng xuồng phục vụ dân chài lưới, đi câu, vận chuyển lúa gạo, thuỷ sản, trái cây…Đã có hàng trăm hàng ngàn xuồng câu, ghe xuồng ra đời từ nơi đây lênh đênh trên sông nước Cửu Long.

     “Xuồng Cần Thơ”, loại xuồng năm lá mà dân miền Tây quen thuộc xuất xứ từ chính làng nghề này.

* Bánh Pía – lạp xưởng Sóc Trăng

     Khi đến Sóc Trăng từ hướng Hậu Giang qua để tham quan các khu du lịch, đến cửa ngõ huyện Châu Thành, du khách sẽ bắt gặp ngay hàng loạt cửa hàng bánh pía, lạp xưởng. Chỉ tính riêng thành phố Sóc Trăng đã có trên 80 cơ sở sản xuất với hàng ngàn tấn hàng hóa cung ứng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm. Hệ thống siêu thị lớn – Saigon Coop cũng đã đặt lên quầy những hộp lạp xưởng có xuất xứ từ Sóc Trăng bên cạnh các thương hiệu có tiếng: Vissan, Cầu Tre, Long Phụng…

     Các cơ sở sản xuất bánh đã liên kết lại với nhau thành lập Hiệp hội và cùng giúp nhau trong sản xuất, thông tin thị trường. Bên cạnh đó, Sở Công thương đã xây dựng một thương hiệu chung cho sản phẩm bánh pía – lạp xưởng Sóc Trăng, từ đó các thành viên Hiệp hội sử dụng thương hiệu chung để tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm.

* Làng nghề đan bàng Phú Mỹ, Kiên Giang

     Đồng cỏ bàng Phú Mỹ – Vĩnh Điều huyện Kiên Lương (tỉnh Kiên Giang) là một vùng ngập nước nguyên thủy còn sót lại của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với đặc trưng là nhiễm phèn nặng, giàu hữu cơ, ngập theo mùa và thực vật thích nghi chủ yếu là cây cỏ bàng. Đây là đồng cỏ bàng tự nhiên lớn nhất và ít bị xáo trộn nhất còn lại của Nam bộ.

     Đồng cỏ bàng đóng vai trò quan trọng đời sống kinh tế của nhân dân trong vùng. Sống giữa một vùng đất phèn mặn, đồng bào Khmer nơi đây đã kiên nhẫn biến cỏ bàng thành hàng hóa với các sản phẩm sinh hoạt và mỹ nghệ mang lại nguồn thu nhập đáng kể. Tuy nhiên trước đây nghề đan đệm bàng chỉ tồn tại như một thứ công việc làm thêm của người phụ nữ Khmer tại địa phương vào thời điểm nông nhàn. Hàng làm ra bán giá rẻ, khó tiêu thụ do không có điều kiện mở rộng thị trường. Hiện nay được sự giúp đỡ của chính quyền và một số tổ chức khác, thị trường đang được mở rộng, tăng thu nhập cho người dân.

     Công việc đan lát các sản phẩm từ bàng khá nhẹ nhàng nhưng đòi hỏi sự khéo léo, rất thích hợp cho cả phụ nữ và trẻ em tham gia. Họ làm ra các sản phẩm rất đa dạng như: đệm, túi xách, đồ gia dụng… Những sản phẩm làm ra hoa văn rất tinh xảo mà vẫn mang “cái hồn” của đồng quê chân chất. Những đường nét hoa văn cứ lần lượt hiện dần lên dưới đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân làng nghề. Người đan bàng không những làm hàng theo mẫu mã sẵn có mà còn tự mày mò nghiên cứu, cải tiến và thiết kế cho ra các sản phẩm với mẫu mã mới lạ, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

     Nghề đan bàng đang mở ra nhiều triển vọng vì thị trường xuất khẩu đang mở rộng trong lúc địa phương dư thừa khá nhiều lao động trẻ. Hiện nay đời sống của nhân dân vùng đồng cỏ bàng ngày càng được nâng lên rõ rệt, bộ mặt nông thôn đang từng ngày khởi sắc.

* Nghề nắn nồi ở Hòn Đất

     Nằm ở trung tâm huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang có một làng nghề truyền thống, đó là nghề nắn nồi, chuyên tạo ra những sản phẩm bằng đất nung như: cà ràng, nồi, om, ơ, xoong, chảo…

      Xuất hiện vào những cuối những năm 20 của thế kỷ XX, vị sư tổ của làng nghề là người Khmer, về sau người Việt đã học được nghề này. Nghề nắn nồi là một thuật ngữ chứa một khái niệm chung chỉ công việc tạo ra các sản phẩm làm từ đất nung.

     Cũng như bao nơi khác, nguyên liệu dùng để nắn nồi là đất sét, phải có đủ các tiêu chuẩn như dễ đánh bóng, chịu nhiệt cao, tính kết dính cao…mà loại đất này có sẵn trên địa bàn huyện. Để hoàn thành một sản phẩm bằng đất phải qua nhiều công đoạn, công đoạn đầu là nắn hay còn gọi là tạo hình vì tất cả các sản phẩm đều có khuôn (khung) bằng gỗ hoặc bằng đất nung, đến công đoạn vỗ, do đất ướt chứa nhiều nước nên sản phẩm mới đầu thường biến dạng, đòi hỏi người làm phải có kỹ thuật vỗ bằng các thanh tre, sau đó là công đoạn làm bóng, tạo hoa văn để sản phẩm được nhẵn bóng hoàn chỉnh. Nếu được chứng kiến các công đoạn làm mới thấy để có được sản phẩm như ý đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật cao, bàn tay phải uyển chuyển, mềm mại, sáng tạo.

     Sau một tuần lễ, các sản phẩm được phơi khô và có thể đưa vào nung, gọi theo tiếng nhà nghề là “đốt nồi”. Công đoạn đốt nồi khá đơn giản nhưng phải là người có nhiều kinh nghiệm trong nghề, trước kia cũng có nhiều thợ đốt nồi chuyên nghiệp đi đốt thuê nhưng đến nay ai cũng có thể đốt được. Trước khi “nung” người thợ phải sắp mọi sản phẩm lên mặt đất, chèn rơm hoặc cỏ khô vào các sản phẩm, phía trên lớp rơm có một lớp củi tràm. Người ta thường tiến hành đốt vào lúc ban đêm để dễ theo dõi lửa cháy cho đều. Thông thường, các loại sản phẩm “nặng lửa” được đặt ở trung tâm, loại “nhẹ lửa” sắp ở chung quanh để sản phẩm không bị sống hoặc chín quá.

     Trước sự phát triển của kim loại, nhiều vật dụng đã thay thế các sản phẩm bằng đất nung nhưng nghề nắn nồi ở Hòn Đất vẫn tồn tại và được nhiều người biết đến.

Trích “Đồng bằng sông Cửu Long vùng đất con người”

NÉT VĂN HÓA TỪ NHỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

Được mệnh danh là vùng đất phì nhiêu màu mỡ, sông ngòi chằng chịt, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mỗi năm sản xuất ra hàng chục triệu tấn lương thực, trong đó nghề trồng lúa nước đã phát triển rất lâu đời, đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân vùng châu thổ. Song hành với sự phát triển của nền văn minh lúa nước, việc hình thành các làng nghề cũng bắt đầu từ những nghề thủ công, chỉ sản xuất ra các vật dụng chủ yếu phục vụ cho cuộc mưu sinh… Qua thời gian thăng trầm, có những làng nghề bị mai một dần ở nơi này, nhưng lại được khôi phục ở nơi khác. Nét văn hóa của các làng nghề vẫn mãi tồn tại, cuốn theo dòng chảy của cư dân, xuôi về phương Nam để rồi định hình và không ngừng phát triển.

Đôi nét làng nghề xưa

     Nghề thủ công xưa kia của cư dân vùng châu thổ ĐBSCL ban đầu chưa định hình thành những làng nghề, chỉ là những nghề phụ trong lúc nông nhàn, sản xuất ra các vật dụng thiết yếu phục vụ cho đời sống, sinh hoạt hàng ngày, gắn với điều kiện tự nhiên về địa lý, môi trường của từng vùng. Theo thời gian, những nghề phụ đã thể hiện được vai trò to lớn của mình, mang lại lợi ích thiết thực, như các vật dụng từ mây, tre đan, nghề dệt vải, dệt chiếu, nghề chài lưới đánh bắt cá, tôm, nghề nhào nặn đất sét để làm lò đun nấu, làm lu, khạp… phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Nghề rèn, đúc đồ sắt, đồ đồng sản xuất ra công cụ phục cho sản xuất, khai hoang mở đất, dựng nhà cửa… Nghề phụ từ chỗ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa mua bán, trao đổi, mang lại lợi ích kinh tế to lớn. Đã làm thay đổi tập quán sản xuất riêng lẻ. Từ chỗ một vài gia đình làm, đến nhiều gia đình khác cũng học làm theo, dần dần lan rộng, hình thành nên những làng nghề.

     Cũng chính từ lợi ích kinh tế mang lại, cộng đồng dân cư từng bước xây dựng nên những làng nghề chuyên sâu, sản xuất hàng hóa mang tính chuyên nghiệp hơn, sản phẩm làm ra ngày càng tinh xảo mang nét đặc trưng, mà ngày nay nhìn những sản phẩm ấy, ta có thể nhận biết được xuất xứ của chúng.

Hấp dẫn du khách

     Hiện nay, ĐBSCL có hàng trăm làng nghề, với hàng vạn lao động có tay nghề cao, trong đó có rất nhiều người được xem là nghệ nhân. Sản phẩm làm ra không chỉ tiêu thụ nội địa, mà đã được khẳng định thị phần trên các thị trường châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước ASEAN. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm ra từ đôi tay của người thợ, đang được khách nước ngoài rất ưa chuộng nhờ độ tinh xảo, tính thẩm mỹ… trên mỗi sản phẩm còn thể hiện nét văn hóa riêng của từng vùng. Thương hiệu của những sản phẩm đang góp phần quảng bá cho du lịch Việt Nam, một hướng đi để xây dựng thương hiệu vững mạnh trong quá trình hội nhập, mở ra sự giao lưu văn hóa với nhiều nước trên thế giới. Cho thấy sự bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ trên lĩnh vực văn hóa mà còn mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn, giúp cho việc giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập cho người thợ thủ công có đời sống ổn định, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo… đang là những đòi hỏi người nghệ nhân, người thợ, các nhà quản lý cần có một tầm nhìn chiến lược, “thổi hồn” cho những sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở các làng nghề, ngày càng đa dạng về mẫu mã, phong phú về tạo hình… để vừa phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch, một giải pháp tốt nhất để bảo tồn và phát huy năng lực của các làng nghề truyền thống.

     Ở Cà Mau, làng nghề đan đát truyền thống Trúc Xanh tuy mới được khôi phục vào năm 2005, nhưng sản phẩm làm ra đã chiếm lĩnh thị trường Campuchia, với hàng trăm ngàn sản phẩm xuất đi mỗi năm, thu về nguồn lợi kinh tế khá lớn, đã làm cho làng nghề có sức sống mới, vùng nguyên liệu ngày càng được mở rộng, bảo đảm cho sản xuất đang thật sự bền vững, đã minh chứng cho giá trị nghề truyền thống sẽ không bị mai một, nếu có bước đi phù hợp, chuẩn bị tốt trong quá trình hội nhập sẽ khẳng định được thương hiệu trong tương lai.

     Vừa qua, sản phẩm gốm sứ Vĩnh Long đã có mặt triển lãm tại Cộng hòa Liên bang Đức, từ gốm thô đến gốm trang trí mỹ thuật, cho thấy sự quan tâm của khách nước ngoài đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ trên lĩnh vực gốm sứ, mà ngay cả các loại sản phẩm khác, nếu được sự quan tâm xây dựng thương hiệu, có chính sách quảng bá tốt, gắn với việc phát triển hài hòa giữa du lịch và sản phẩm du lịch, trong đó bản sắc văn hóa truyền thống phải giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, không bị thương mại hóa. Khuyến khích sự hợp tác giữa các vùng, giữa các nghệ nhân. Đặc biệt quan tâm đến việc dạy nghề cho đội ngũ lao động trẻ nắm bắt các kỹ thuật sản xuất truyền thống… Một giá trị không thể thiếu của các làng nghề.

(Theo: Báo ảnh Đất Mũi)

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*