Kênh Bảo Định – Dòng kênh cổ nhất miền Tây

kênh bảo định tiền giang
kênh bảo định tiền giang

Kênh Bảo Định còn có tên gọi là Bảo Định Hà, Bảo Định Giang; thời Pháp thuộc, kênh có tên là Arroyo de la Poste. Kênh chảy qua địa bàn thành phố Mỹ Tho, huyện Chợ Gạo của tỉnh Tiền Giangthành phố Tân An của tỉnh Long An rồi đổ nước vào sông Vàm Cỏ Tây.

kênh bảo định tiền giang
kênh bảo định tiền giang

Đây được xem là con kênh đào đầu tiên của xứ Nam Kỳ, từng là tuyến giao thông thủy quan trọng từ miền Tây lên Sài Gòn. Khi kênh chợ Gạo ra đời, vai trò này của kênh Bảo Định bị lãng quên.

Sông Bảo Định tục gọi là kênh Vũng Gù, là thủy lộ nối liền rạch Vũng Gù với rạch Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang, Việt Nam. Thời chúaNguyễn Phúc Chu, sông này chỉ là một con mương đào (hào), đến năm 1819 được vua Gia Long cho nạo vét và nó trở thành con kênh đào đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long. Thời Pháp thuộc, sông Bảo Định lại là con kênh đầu tiên ở Nam Bộ được dùng phương tiện cơ giới là chiếc xáng múc[1] để nâng cấp dòng chảy

Kể từ khi hoàn thành, sông Bảo Định luôn giữ một vai trò quan trọng về các mặt: quân sự, thủy lợi, giao thông và cung cấp một phần nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng.

Mời các bạn xem clip của đài truyền hình Cần Thơ về con kênh Bảo Định này:

Trước khi có sông Bảo Định, tại đây đã có rạch Vũng Gù ở về phía Đông Bắc, chảy từ sông Vàm Cỏ Tây đến xóm Thị Cai; và rạch Mỹ Tho ở về phía Nam, chảy từ sông Tiền tới Bến Tranh (vì bán tranh lợp nhà, nay là chợ Lương Phú thuộc xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo). Khoảng giữa, tức từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh thuộc thôn Lương Phú, là ruộng vườn liên tiếp.

Năm Ất Dậu (1705), vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, Vân Trường hầu Nguyễn Cửu Vân đem quân sang bình định đất Chân Lạp. Xong việc, để phòng giữ miền biên cảnh và vùng đất Mỹ Tho, được tạo lập và phồn vinh từ thời Dương Ngạn Địch (một võ tướng nhà Minh chạy sang xin thần phục Đại Việt thời chúa Nguyễn Phúc Tần) đến coi quản, Nguyễn Cửu Vân cho đắp một chiến lũy dài từ Thị Cai đến Bến Tranh. Bên ngoài lũy, ông còn cho đào một hào sâu rộng nối liền rạch Vũng Gù (Tân An) và rạch Mỹ Tho.

Sau một thời gian dài, con mương (hào) xưa vốn có nhiều khúc quanh co hẹp nhỏ, nay lại bị bùn cỏ tích tụ gây cạn lấp, thuyền lớn đi đến đây phải đợi nước lên đầy mới đi được, nhất là đoạn giáp nước tại chợ Thang Trông. Vì vậy, ngày 28 tháng Giêng (âm lịch) năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long đã sai quan trấn thủ Định Tường là Bửu Thiện hầu Nguyễn Văn Phong lo việc nạo vét và nới rộng dòng chảy này.

Theo sử liệu thì ngoài Nguyễn Văn Phong, còn sự trợ giúp của Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý và vài viên quan khác nữa [3] đã huy động 9.679 dân tráng trong trấn, chia làm ba tốp, thay nhau nạo vét. Dân phu làm thì được cấp cho mỗi người một quan tiền và một vuông gạo để chi dùng trong một tháng.[4]

Công trình cải tạo con mương được tiến hành trong khoảng hơn ba tháng, khởi công ngày 23 tháng 2 năm 1819 và kết thúc ngày 28 tháng 5 năm 1819. Tính từ chợ Thang Trông qua Hóc Đồng (hay Hóc Đùn) đến bến Mỹ Tho thì chiều dài của kênh là 40 dặm rưỡi (khoảng 14km), rộng trung bình 15 thước ta (độ 6 m) và sâu trung bình 9 thước ta (3,50m).

Việc tâu lên, vua Gia Long khen ngợi và cho đặt tên là Bảo Định hà (sông Bảo Định), và cho phép Huỳnh Công Lý được dựng bia ghi công ở bên bờ kênh gần chợ Thang Trong. Năm Ất Tỵ (1835), vua Minh Mạng cho đổi tên lại là Trí Tường giang (sông Trí Tường), có tạc bia đá dựng nơi bờ sông thôn Phú Kiết. Đời vua Thiệu Trị, không rõ năm nào, lại đổi tên thành sông An Định. Đến khi quân Pháp sang xâm lấn Việt Nam, họ lại cho đổi tên là Arroyo de la Poste (kênh Bưu Điện).

Tuy nhiên, người dân vẫn quen gọi là sông Bảo Định hay kênh Trạm (vì trên bờ sông có đặt trạm để chuyển công văn của triều Nguyễn và sau nữa là của Pháp).

Theo Trịnh Hoài Đức, thì lúc bấy giờ để có chỗ “đứng nhắm đo đạc địa thế”, người ta cho dựng một cái thang cao, tục gọi là thang trông (tên chữ là Vọng Thê), và về sau nó trở thành địa danh: chợ Thang Trông ở xã Phú Kiết thuộc huyện Chợ Gạo[5]. Tuy nhiên, theo monographie thời Pháp thuộc thì cái tên này bắt nguồn từ “cái thang cao để trông chừng địch quân”. Và nó (sách chuyên khảo này ghi là Thân Trong hay Thân Trọng) đã có từ thời chúa Nguyễn đánh nhau với quân Tây Sơn, nhưng có người lại cho rằng nó có từ khi giao chiến với quân Thổ (thời Nguyễn Cửu Vân?)[6].

Đây là một trong số địa bàn hoạt động của nghĩa quân Thủ Khoa Huân, và là thủy lộ chính đã được quân Pháp sử dụng để đưa quân và tàu chiến đến đánh chiếm tỉnh Định Tường năm 1861 (xem trang Pháp đánh chiếm Định Tường). Bởi có vai trò quan trọng về quân sự và nhiều mặt khác nữa, năm 1867 (có tài liệu ghi là năm 1866), thực dân Pháp đã cho dùng chiếc xáng múc để nâng cấp dòng kênh, và nó lại trở thành là con kênh đầu tiên ở Nam Bộ được nạo vét bằng phương tiện cơ giới.

Sông Bảo Định trở thành bút danh của một nhà thơ đất Nam Bộ, đó là Bảo Định Giang (1919-2005). Ông kể:

…Thủ Khoa Huân bị quân Pháp đóng gông chở đi bằng thuyền xuôi dòng Bảo Định đến Mỹ Tịnh An để hành quyết. Với lòng biết ơn sâu sắc, buộc tôi chọn cái tên Bảo Định Giang đặt làm bút danh của mình trước khi bước vào cuộc chiến kháng chiến. Đó là đêm giao thừa năm 1946

Trước khi có kênh Bảo Định, cả vùng này chỉ có rạch Mỹ Tho chảy từ Hóc Đùn ra sông Tiền ở phía Nam; còn ở phía Bắc thì có rạch Vũng Gù chảy từ rạch Cai Lộc ra sông Vàm Cỏ. Khoảng giữa là đầm lầy, cỏ dại mọc đầy. Năm 1705, vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, chính thống Vân Trường Hầu Nguyễn Cửu Vân đem quân chặn đánh giặc Cao Miên xâm phạm biên cảnh nước ta. Để phòng quân giặc tập kích, ông cho đắp một phòng tuyến dài, từ quán Thợ Cai đến chợ Lương Phú. Bên ngoài phòng tuyến, đào một mương hào nối liền rạch Vũng Gù và rạch Mỹ Tho. Sau đó, nhân đường nước về lưu thông, người ta đào thêm thành kênh cho ghe thuyền qua lại, gọi là kênh Vũng Cù. Do đào vội, kênh Vũng Gù không được thẳng, khoảng sau một thế kỷ, nhiều chỗ bị lấp cạn, giao thông bất tiện. Sau đó, Trấn thủ Định Tường Nguyễn Văn Phong đã huy động 9 ngàn dân phu cải tạo lại kênh Vũng Gù, dài 14 dặm, ngang 7 trượng, sâu 9 thước. Công trình khởi công từ tháng giêng đến tháng tư năm 1819 (Kỷ Mão) thì hoàn thành và đặt tên là Bảo Định Hà. Năm 1825, Minh Mạng lại đổi thành sông Trí Tường. Năm 1867, người Pháp đem máy đào sâu và mở rộng thêm, dùng để chuyển công văn thư tín nên kênh này có tên là kênh Bưu Điện (Arroyo de la Poste).

Kênh Bảo Định đã được vét nhiều lần, lần gần đây nhất là vào năm 1979. Chiều dài kênh qua địa phận Tiền Giang là 19.000 m. Bề sâu so với mặt đất tự nhiên thay đổi tùy theo đoạn: đoạn từ cửa kênh – hỗ thông với sông Tiền – đến cầu Triển Lãm sâu 6 – 9 m, đoạn từ vàm rạch Đạo Ngạn đến chùa Phổ Đức sâu 4 – 5 m, cạn nhất là đoạn chảy qua 2 xã Phú Kiết và Mỹ Tịnh An của huyện Chợ Gạo (chỉ sâu 2 – 3 m). Năm 1974, cống Tân An đã được xây tại đầu phía Bắc của kênh (gần thành phố Tân An) nhằm ngăn nước mặn từ sông Vàm Cỏ Tây xâm nhập vào ruộng, vườn. Năm 2004, cống Bảo Định với chức năng tương tự cũng đã được xây tại gần vàm phía Nam. Vào mùa nước mặn hai cống đóng cửa, vai trò giao thông thủy của kênh hiện không như trước đây.

Có nên khai thông kênh Bảo Định?

Từ khi xây các đập ngăn mặn, nhằm cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt, vai trò giao thông thủy của kênh Bảo Định đã không còn được chú ý đến nữa. Thị xã Tân An cũng mất đi hoạt động kinh tế sông nước nhộn nhịp ngày nào. Có người cho rằng, đây cũng là nguyên nhân làm Tân An mất đi cơ hội phát triển phồn thịnh. Khi chưa bị đắp đập ngang, tàu thuyền tải trọng cở 200 tấn có thể lưu thông trên kênh Bảo Định. Sau khi xây đập, dòng kênh bị tù đọng, nước chảy lờ đờ, mật kênh phủ kín lục bình. Những năm gần đây, khi kênh Chợ Gạo liên tục bị sạt lở, đắm tàu, ách tắc, người ta mới nghĩ đến vài trò của kênh Bảo Định. Từ đó, có người đặt vấn đề, nên chăng khai thông kênh Bảo Định. Nếu khai thông kênh này thì sẽ được gì và phải giải quyết khó khăn gì?

Báo Lao động điện tử ngày 27-05-2008, đưa ra ý kiến cho rằng nếu phá bỏ đập Bảo Định (để khai thông dòng kênh) thì phải giải quyết 2 vấn đề.

– Thứ nhất, một số khu vực có thể bị nước mặn xâm nhập kéo dài khoảng 2 tháng vào mùa khô. Vấn đề này có thể giải quyết bằng các đập nhỏ cục bộ ven kênh. Bù lại nước biển vào có thể giúp phát triển nuôi trồng thủy sản.

– Thứ hai, phải giải quyết 2 chiếc cầu bắc ngang kênh ở thị xã Tân An (khoang thông thuyền hẹp và thấp), trong đó có 1 chiếc đã gần 100 tuổi.

Chi phí để khắc phục những khó khăn đó là rất nhỏ so với những gì kênh Bảo Định đem lại cho 2 tỉnh Long An – Tiền Giang và cả khu vực Đông bằng Sông Cửu Long khi dòng kênh được “hồi sinh”.

Tuy nhiên, ý tưởng này đã không thành hiện thực khi Bộ Giao thông – Vận tải quyết định đầu từ 2.000 tỷ VNĐ để nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo và xem đây là thủy lộ chính cho tàu thuyền từ miền Tây lên thành phố Hồ Chí Minh.

The Bảo Định canal (kênh Bảo Định, Bảo Định Hà) also called the Bảo Định river (Bảo Định Giang, sông Bảo Định) is a part-natural, part-man made waterway in the Mekong Delta in Vietnam. It is in places also named the Vũng Gù canal (kênh Vũng Gù, (sông Vũng Gù).

The canal runs from the Vàm Cỏ Tay river at Tân An to the Tiền River atMỹ Tho.[1]

History

The waterway first began to be manually improved in the rulership of Nguyễn Phúc Chu (1675–1725).[2] The canal was substantially deepened and extended in the reign of Gia Long,[3] with 9,000 workers being mobilised to connect the two rivers around 1819

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*