Chợ Tro Trà Thôn – Chợ Đặc Biệt ở Miền Tây Sông Nước

chợ tro trà thôn
chợ tro trà thôn

Gắn liền với sông nước Nam bộ, chợ nổi trên sông là nét văn hóa đặc trưng vùng miền. Chợ nổi là nơi trao đổi, mua bán nhiều loại hàng hóa với những chiếc ghe, chiếc xuồng bồng bềnh trên mặt nước, dễ dàng di chuyển. Miền Tây nổi tiếng với những chợ nổi có quy mô lớn như chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang), chợ nổi Long Xuyên (An Giang)… Ở huyện cù lao Chợ Mới (An Giang) có một chợ nổi chỉ buôn bán một thứ hàng hóa khá đặc biệt: tro. Đó là chợ tro Trà Thôn.

chotro

Huyện Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang, được sông Tiền, sông Hậu bao bọc và bồi đắp phù sa nên đất đai ở đây màu mỡ, thích hợp với việc trồng hoa màu. Vì thế, Chợ Mới luôn là địa phương dẫn đầu An Giang về cung cấp hoa màu cho thị trường trong và ngoài tỉnh, có khi xuất sang Campuchia. Huyện cù lao này từ xưa đã nổi tiếng với câu lục bát: Chiều chiều quạ nói với diều – Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm; và đã đi vào lời ca, làm say đắm lòng người: “Cái chợ có hồi nào và bao nhiêu tuổi? Mà ai cũng bảo rằng: Chợ Mới quê hương! Ở nơi đó, tôi có một người thương. Cứ chiều chiều nàng ra bờ sông giặt áo…” (Chợ Mới – Trọng Nguyễn).

Mời Bạn xem clip Chợ Tro Trà Thôn ở An Giang Do Đài TH TP Cần Thơ thực hiện

Trà Thôn là kinh nối liền sông Tiền với sông Ông Chưởng thuộc huyện Chợ Mơi tỉnh An Giang, là con kinh do người dân đào đất mà thành. Hai bờ kinh thuộc hai ấp Long Quới 1 và Long Quới 2 (xã Long Ðiền B), nơi có nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề mua bán tro đã hơn 20 năm, tập trung đông nhất khoảng một cây số ở đoạn đầu kinh Trà Thôn thông với sông Ông Chưởng.

Lúc đầu, chỉ có mấy hộ gia đình nghèo, không có đất canh tác, bỏ công đi hốt tro về bán cho nhà vườn chung quanh kiếm lời. Mà đất ở đây tốt lắm, không cần sử dụng đến tro, nên cũng khó bán. Vì vậy, bà con lấy ghe chở tro sang các tỉnh khác bán.. Thấy có được chút lời, nhiều người xúm vào làm, dần dần đông đúc như ngày nay.

Ngày trước nhà ai cũng làm ruộng, cắt lúa bằng tay, máy suốt xong, rạ rơm chất thành đống, đốt đồng xong, mặc sức mà hốt tro. Và nhà nào cũng nấu lò củi hoặc lò trấu, rồi cây lá trong vườn, sau nhà rụng xuống, họ gom lại đốt, tro bỏ không, bay mù mịt. Có người hốt, họ mừng lắm! Đến lúc nguồn tro tại chỗ cạn thì họ đi các đồng lân cận, các huyện lân cận,… có người còn đi tới Bến Tre, Trà Vinh hốt tro. Cho nên mới có người đi hốt tro và người thu mua tro, dần dần hình thành chợ nổi tro Trà Thôn.

Về Trà Thôn những ngày cuối hè ta có thể thấy cả trăm chiếc ghe tro đậu dọc dài hai bên bờ kênh Trà Thôn và dòng sông Ông Chưởng để cất hàng. Không chỉ bán tro cho các chủ vựa ở Trà Thôn mà nhiều chủ vườn trồng hoa kiểng, cây ăn trái ở miệt Sa Đéc, Cái Mơn, Vĩnh Long… cũng tìm đến tận “thương cảng tro rơm Trà Thôn” để mua. Hiện nay ở Trà Thôn có hàng trăm chủ vựa tro lớn, nhỏ. Vựa tro lớn nhất có cả trăm ngàn giạ, nhỏ nhất cũng mười, hai mươi ngàn giạ…

Dưới kinh ghe nhỏ, tàu lớn buôn bán tấp nập. Ghe, tàu nào cũng lố nhố bóng người giậm tro, cào tro, đội tro… Còn hai bên đường, đi tới đâu cũng thấy những đụn tro chất đống, cao lêu nghêu được quây bạt để che mưa. Giữa trưa, có tiếng ca thiệt mùi của anh thanh niên nào đó cải biên bản vọng cổ Tình anh bán chiếu:
Tro Trà Thôn cắm sào khắp ngả
Thấy tôi đen đúa cô chớ vội cười
Tro này bán hổng mắc đâu
Ruộng vườn cô trúng chúng mình nên duyên…

Chợ tro bên dòng sông Ông Chưởng

Tôi về cù lao Ông Chưởng độ giữa tháng 11 Âm lịch, thời điểm được cho là sung túc nhất của chợ tro Trà Thôn. Thế nhưng, khác hẳn cảnh xưa, không khí hôm ấy khá vắng vẻ. Rà xe dọc tuyến hương lộ liên xã, dò hỏi bà con: “Bác ơi cho cháu hỏi, sao giữa tháng 11 rồi mà quê mình ghe xuồng mua tro ít vậy?”, một người đàn ông đứng tuổi ngay chân cầu Trà Thôn, ấp Long Quới 1 (xã Long Ðiền B, huyện Chợ Mới, An Giang) trả lời: “Ừ, đúng ra giờ này mọi năm ghe ăn hàng nhiều lắm. Ði đâu cũng gặp tro hết, bụi mù trời luôn. Nhưng khoảng ba năm trở lại đây “hơi hẻo”, hổng biết do đâu nữa, nhưng nghe đâu miệt vườn Tây Ninh, Bình Phước (nơi chuyên ăn hàng tro Trà Thôn) trồng cây khoai mì (sắn) không được giá, rồi miệt Cái Mơn, Sa Ðéc hàng hoa Tết cũng trầy trật. Thêm vào, bây giờ rơm đâu có để đốt lấy tro khi máy gặt đập liên hợp đầy đồng, rơm rạ tuốt ra xếp dãy trên ruộng đốt luôn, tro đâu thu hoạch được”. Câu trả lời đậm chất miền Tây ấy đã giúp tôi hiểu được phần nào “lời giới thiệu” không mấy khả quan về triển vọng nghề tro của một người bạn là lãnh đạo xã ở Chợ Mới, khi biết tôi muốn tìm hiểu thêm về chợ tro Trà Thôn.

Không bỏ cuộc, tôi đi sâu vào trong rạch Trà Thôn, con kênh nhỏ nước đã dần cạn khi mùa hạn sắp về. Từng nhóm thanh niên tụm năm, tụm bảy tán dóc, còn xa xa kia trong mái chái ngôi nhà sàn đơn sơ thì bàn tròn lai rai vài xị đế của một nhóm khác cũng đã gầy độ tự lúc nào. Thế mới biết, lúc nông nhàn, khi việc làm không có, con người ta rất dễ sa đà vào những trò vui “giải khuây, giải sầu” mà người đời gọi là: “nhàn cư vi bất thiện”. Rồi tôi cũng gặp một ngôi nhà với mấy ụng tro đang đắp tấm bạc, dưới kênh chiếc ghe đang trơ đáy, phơ phất bụi tro đen đúa. Ghé nhà, ông chủ nhà ngoài bốn mươi đang kẽo kẹt trên chiếc võng dù: “Anh ơi, nhà mình có mua bán tro không?”.

– “Ừ có, mà chú em cần gì?” anh đáp lại câu hỏi của tôi bằng câu hỏi khác.

– “Dạ, em muốn tìm hiểu nghề tro”.

– “Tro với trấu gì, đang khổ muốn bỏ nghề mà chưa được nè! Thôi vô nhà làm ly nước trà rồi muốn hỏi gì thì hỏi”, anh đáp.

Mừng thầm, tôi cho xe chạy thẳng vào nhà, leo lên mấy bậc tam cấp, ngồi bệt xuống sàn và bắt đầu câu chuyện về cái chợ tro độc đáo được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam (Viet-kings) trao tặng danh hiệu một trong 100 phiên chợ độc đáo của Việt Nam.

Anh bảo, mình tên Trần Văn Thưởng, thứ hai trong nhà (người con lớn nhất trong gia đình theo cách gọi của dân miền Tây), năm nay đã 45 năm tuổi đời, còn tuổi nghề thì ngót nghét gần 30 năm. Nhà có bốn anh em thì ba người theo nghề, cộng với đời ông nội, đời cha cùng bà con nội ngoại cả thảy đại gia đình anh có gần ba mươi người theo nghề tro trấu ở xứ Trà Thôn này. “Cả ba bốn đời theo nghề, được cái cuộc sống ổn định, giàu có thì chưa, nhưng nói thật, gia đình tui mà không có nghề tro trấu này thì cũng không biết lấy gì để sống”, anh Hai Thưởng tâm sự. Mười lăm tuổi, Hai Thưởng đã theo cha đi khắp xứ miền Tây để mua tro. Thời đó, tro nhiều vô số, bà con mình làm lúa thì cắt bằng tay, tuốt bằng máy nên rơm chất thành cây, phủ đốt, tro thì đầy ra đó. Thêm vào, ngày trước nhà nào cũng cháy bếp đốt củi, đốt trấu nên tro cũng nhiều. Rồi vườn nhà lá cây, cỏ mọc um tùm độ dăm ba ngày lại quét lá đốt ung nên tro cũng nhiều. Hằng hà sa số cách để có tro, nên vì thế nghề tro dạo thập niên 80, 90 của thế kỷ 20 đến đầu những năm 2000, chợ tro Trà Thôn vô cùng sung túc.

Theo những người lớn tuổi nơi đây kể lại, chợ tro Trà Thôn này được hình thành khoảng thời điểm năm 1970. Thời ấy, bà con khu vực Trà Thôn chuyên nghề đi ghe lên Lái Thiêu (Bình Dương) mua hàng gốm sứ về đây bán dạo khắp nẻo miền Tây. Cứ khoảng một, hai tháng lại đi buôn hàng một chuyến. Trong những hộ đi buôn hàng gốm sứ ấy có bà Hai Bạn, một trong những hộ có ghe chành lớn nhất xứ này khi lên miệt Lái Thiêu, Tây Ninh, thấy bà con nông dân trồng cây khoai mì, đậu phộng, dưa hấu…, mua cả tro đốt lò gốm mà bón, trong khi quê mình tro trấu có nhiều chất dinh dưỡng hơn lại đổ bỏ. Thấy vậy, bà Hai Bạn quyết định táo bạo, mua tro quê mang lên đây bán kiếm tiền dầu rồi mua gốm mang về bán chứ chạy ghe không lên cũng uổng phí. Vậy là, những chuyến tro đầu tiên được hình thành từ ấy. Sau những chuyến hàng đầu tiên của bà Hai Bạn không những dư tiền dầu mà còn lãi gấp nhiều lần các chuyến hàng gốm, những người đi hàng chung bắt đầu thu gom tro để cùng đi. Buôn có bạn, bán có phường, từ lúc một mình gia đình bà Hai Bạn bán thử tro, đến ông Năm Tải, ông Bảy Sậy, Hai Bê, Sáu Vó, Tư Sưng, Hai Hùm, Hai Hòa Bình…. cũng đánh những chuyến hàng tro mang bán. Thương hồ gốm sứ dần chuyển sang chuyên đánh hàng tro cũng từ dạo ấy. Dần dà, tro Trà Thôn không chỉ có mặt ở Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, mà hàng tro nơi đây còn góp phần ươm mầm cho những chậu hoa Tết ở Cái Mơn (Bến Tre), Sa Ðéc (Ðồng Tháp), góp phần cho những cái Tết thêm tươi vui sắc mầu cuộc sống.

Muốn hiểu thêm chuyện xưa, chúng tôi dò hỏi và may mắn gặp một trong những thế hệ thương hồ tro đầu tiên còn sống xứ Ông Chưởng, đã đánh những chuyến hàng tro từ chợ tro Trà Thôn lên miệt Ðông Nam Bộ – ông Hai Bê (Lê Văn Hai, 82 tuổi). Dẫu tuổi tác đã cao nhưng ông vẫn còn nhớ rõ những kỷ niệm ngày đó, ông kể: “Nói thiệt, lúc đó, tụi tui mua tro rẻ như bèo. Mua một bán giá đến chục lần. Tro trấu thời đó nhiều lắm, có ai bán đâu, có khi người ta cho mình hốt để khỏi bụi bặm bay vô nhà. Mỗi chuyến hàng tro thời đó về lãi mua được vài cây vàng là chuyện nhỏ. Tui nè, đi gốm sứ đâu tám, chín năm mà có cất được cái nhà đâu. Vậy mà nhờ tro thôi chỉ bốn năm đã sắm thêm ba chiếc ghe năm mươi tấn cho ba đứa con, cất cái nhà, sắm thêm cái kho hơn trăm tấn trữ tro. Ðời tui cũng nhờ tro mà đã thay đổi cuộc sống”. Thực vậy, lời của ông Hai Bê được đảm chứng bằng những mái nhà ngói, sàn gỗ theo kiến trúc thập niên 70, 80 thế kỷ trước xứ này nhiều vô kể. Như gia đình Hai Thưởng, cha là ông Hai Hòa Bình (Trần Văn Hai) mới theo nghề vài năm đã đóng thêm đến ba chiếc ghe 30 tấn làm của hồi môn cho ba con là Hai Thưởng, Ba Hòa và Tư Son.

Theo thống kê của Hội Nông dân xã Long Ðiền B, chỉ riêng khu vực Trà Thôn đã có khoảng 400 hộ chuyên sống bằng nghề buôn tro. Còn bên kia sông thuộc xã Kiến Thành cũng ngót nghét gần 200 hộ theo nghề. Con số trên theo bà con nơi đây đã giảm hơn hai phần ba so với thời hưng thịnh nhất. Cũng nhờ nghề tro, dẫu bà con ở đây phần lớn đều không có đất, hoặc có diện tích đất nông nghiệp rất thấp nhưng mức thu nhập bình quân tương đối ổn định. Theo anh Hai Thưởng, hiện nay, một tháng ghe tro gia đình đi được từ hai đến ba chuyến, mỗi chuyến tổng chi phí khoảng 10 triệu đồng, nếu bán được giá thì lãi khoảng 50% chi phí, nếu dội hàng cũng kiếm được hai, ba triệu đồng/chuyến. Với thu nhập trên vẫn khá tốt so với mức bình quân chung của người dân vùng nông thôn miền Tây nói chung. Và dẫu đối với nhiều người, tro là thứ bỏ đi, nhưng với xóm nhỏ Trà Thôn này nó lại là chén cơm, manh áo, là nguồn sống của bao thế hệ.

Về Trà Thôn, người ta nói, dân đây ăn tro, uống tro, thở tro, ngủ tro quả là không ngoa khi bụi tro luôn hiển hiện từ đầu đến cuối xóm. Từ đứa trẻ nằm trong nôi đến cụ ông gần đất xa trời, hơi tro, bụi tro như một phần không thể thiếu của cuộc sống bà con miền Trà Thôn này. Tro Trà Thôn được bà con ở đây thu mua từ nhiều nơi. Ngày trước tro nhiều nên tro được bà con đi ghe tự thu gom rồi chuyển đi bán thẳng. Thế nhưng, sau vài năm, khi nghề tro đã trở thành nghề chính, tro bắt đầu chia làm nhiều loại và cũng xuất hiện công thức pha trộn tro cho ra nhiều loại tro với chất lượng khác nhau. Nghề tro cũng từ đó chia ra làm bốn nghề: Gom tro, trộn tro, chủ vựa và thương hồ. Trong đó, dân gom tro và trộn tro chủ yếu làm công, lấy công kiếm lời, còn chủ vựa và thương hồ là những hộ làm ăn lớn, phần lớn chủ vựa cũng là chủ ghe hàng.

Người làm nghề gom tro phần lớn là hộ nghèo, không có ghe hay ghe nhỏ hoặc phụ nữ, người lớn tuổi. Cách thu gom tro rất đa dạng, từ xe đẩy gỗ đến xe tải nhỏ, từ xuồng ba lá đến ghe tam bản. Họ đi len lỏi vào sâu trong từng hộ gia đình, vào tận ruộng, vào trong vườn nhà để đong tro. Tro được mua theo hình thức giạ, thúng hoặc táo, không mua theo ký (ki-lô-gam). Tro sau khi mua xong sẽ được những người thu gom bán lại cho vựa hoặc sang cho ghe lớn. Tro về sẽ được pha trộn với rơm rạ hay trấu theo nhiều tỷ lệ ra thành nhiều loại tro. Tro bếp, tro lá vườn có giá đắt nhất, đến tro rơm ruộng và cuối cùng là tro lò gạch. Mỗi loại giá cả có khi chênh lệch đến năm, bảy nghìn đồng/kg. Giờ đây, khi việc thu hoạch theo hình thức cơ giới hóa với máy gặt đập liên hợp, cộng với lò củi, lò than đã dần thay thế bằng lò ga đã khiến cho hai dạng tro đầu ngày một ít đi, tro lò gạch hiện giờ chiếm phần lớn. Loại tro này nếu pha chế không đúng chuẩn sẽ khiến cây khi bón không phát triển tốt, dễ chết do nóng và hàm lượng chất dinh dưỡng cũng thấp hơn tro bếp, tro rơm rất nhiều. Do đó, thợ trộn tro phải thật sự chuyên nghiệp, người trộn tro phải phân biệt mầu sắc, độ đậm của tro và tỷ lệ pha trộn như thế nào để tro vừa có mầu đẹp mà chất lượng cũng phải bảo đảm. Mỗi kho tro có ít nhất từ hai đến ba thợ trộn chuyên nghiệp.

Ðang hì hục cào trộn, vác tro xuống ghe cho chuyến hàng sắp tới, hai chiếc ghe của gia đình anh Phan Văn Trà, thương hồ trẻ tuổi đời thứ ba của gia đình theo nghề tro ở xứ Trà Thôn này đang chuẩn bị xuất bến vào sáng sớm ngày mai. Bảy công nhân đang tất bật đánh vật với đống tro, bụi bặm đầy trời, ai nấy đen nhẻm, mồ hôi nhễ nhại, nhưng vẫn nói cười tíu tít.

– “Nghe bà con nói tro trấu dạo này ế ẩm, chuyến này định mấy ngày mới bán hết đây, anh trai?”, tôi hỏi.

– “Kệ nó, tới đâu hay tới đó, ở nhà hoài chán lắm, không có tiền mà ở không hoài chắc sinh tật thôi. Nếu hôm nay đủ hàng thì ngày mai đi luôn, chuyến này ghé sang làng hoa Sa Ðéc (Ðồng Tháp) trước, rồi rẽ qua Cái Mơn (Bến Tre) để bán hàng bông Tết, rồi còn lại bao nhiêu sẽ lên Tây Ninh. Từ nay tới Tết Nguyên đán ráng mần thêm hai chuyến nữa mới có đủ tiền mà chơi Tết chứ!” – anh Trà bảo.

Dẫu nghề tro đang ngày một gặp khó khăn, thế nhưng hiện nay, số người theo nghề tro trấu ở Trà Thôn này vẫn cố gắng bám nghề, đeo nghề như một cái nghiệp. “Ðây là nghề của hai, ba thế hệ rồi. Nó đã giúp cha ông mình gây dựng xóm làng sung túc, sao bỏ được. Chỉ có người phụ nghề thôi chứ nghề không phụ mình đâu chú ạ!”, anh Hai Thưởng ngồi bên tôi rỉ tai khi nghe anh Trà dứt lời.

Nắng Trà Thôn đã quá đỉnh đầu, tách trà cùng mấy anh em anh Hai Thưởng hàn huyên cũng đã lạnh nhạt. Chợt nghe ngân nga mấy câu vọng cổ: “Tro Trà Thôn cắm sào khắp ngả/ thấy tôi đen đúa cô chớ vội cười/ tro này bán hổng mắc đâu/ ruộng vườn cô trúng, chúng mình nên duyên…”.

Thế mới biết, dẫu cuộc sống có muôn vàn gian khó, thế nhưng người dân quê chất phác, thật thà vẫn luôn mang trong mình niềm tin vào hạnh phúc tương lai. Nhà nước đang phát động nền nông nghiệp sạch, khuyến khích sử dụng nhiều hơn phân bón hữu cơ thay thế phân vô cơ, thuốc hóa học độc hại…, thì dần dà nghề tro ở đất Trà Thôn ven dòng sông Ông Chưởng sẽ hưng thịnh trở lại như ngày đầu. Những ghe mua bán tro sẽ lại tấp nập, chật kín dòng sông như thuở trước. Và Chợ tro Trà Thôn sẽ là niềm tự hào của người dân nơi đây vì nó mãi mãi là một trong 100 chợ độc đáo nhất nước.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*